1883Thứ sáu, 03/10/2014 7:48

[Tư liệu về cổ vật Việt Nam] Về đồ gốm Chu Đậu

 
   
Ban Biên tập website xin gửi đến bạn đọc bài viết của tác giả Bùi Ngọc Tuấn, một nhà sưu tập gốm Việt ở nước ngoài. Nội dung bài viết liên quan đến phần trả lời của ông với tác giả Phong Uyên về gốm Chu Đậu.

   

 

VỀ ĐỒ GỐM CHU ĐẬU

Bùi Ngọc Tuấn




Trước hết tôi xin cảm ơn ông Phong Uyên và các độc giả xa gần đã đọc và hưởng ứng loạt bài về đồ gốm cổ Việt Nam. Mỗi bài đúng ra là một chương sách trong 10 chương của quyển Đồ gốm cổ, một nền văn hóa thuần Việt mà chúng tôi đang chuẩn bị xuất bản, ngoài phần bài viết còn rất nhiều hình ảnh đồ gốm Việt Nam từ đời Hán thuộc cho đến đời nhà Nguyễn, mà chúng tôi đã may mắn sưu tập được từ trong nhiều năm qua. Thứ tự các chương sách này cũng khác với thứ tự thời gian xuất hiện trên talawas. Tôi phổ biến các chương sách này trên talawas vì đây là cơ hội để các bài viết này đến được với nhiều người đọc trong và ngoài Việt Nam hơn; dù rằng với khuôn khổ trên talawas thì phần hình ảnh đồ gốm phải lược bỏ rất nhiều.


Có một số vị đã tìm được địa chỉ email của riêng tôi để hỏi mua quyển sách này, tuy nhiên vì công việc ấn loát còn đang trong vòng chuẩn bị nên tôi xin hẹn đến ngày hoàn tất.


Tôi cũng xin lỗi ông Phong Uyên và tất cả các bạn đọc vì đã bê trễ trong việc trả lời. Thật ra thì trong vòng 12 tháng qua, chúng tôi đã dọn nhà 3 lần, đi xa hàng nghìn dặm, nên không những sinh hoạt bị xáo trộn mà sách vở, tài liệu và ngay cả bộ sưu tập đồ gốm cũng phải đóng gói kỹ lưỡng, cất trong kho. Khi cần đến thì không sao tham khảo được. Tuy thế cũng không thể trì hoãn lâu hơn nữa, nên hôm nay viết ít dòng này để đáp lại những chân tình của ông Phong Uyên, các độc giả và ban biên tập talawas. Bởi vì không có gì sung sướng hơn khi bài mình viết ra có người đọc, thưởng thức, hưởng ứng và đối thoại, góp ý như thế này.


Từ hơn ba chục năm qua, tôi không còn là người dân Việt Nam nữa, mà đã tự chọn làm một người gốc Việt. Tuy thế niềm cố quốc vẫn không nguôi, tuy thế vẫn là một người Việt Nam về phương diện văn hóa. Bởi vì cái gì rồi cũng sẽ qua đi, duy có văn hóa dân tộc thì vẫn còn mãi mãi khi vẫn còn người tìm hiểu, đọc và viết về văn hóa, vẫn còn người sống, duy trì, phổ biến và chuyển biến nền văn hóa ấy. Tự biết rằng những điều mình viết về đồ gốm cổ Việt Nam vẫn có nhiều thiếu sót nhưng ngặt một điều là ít người biết đến nền văn hóa phong phú, cá biệt và tuyệt mỹ ấy, số người viết về đề tài này lại càng lẻ tẻ, thưa thớt, nên tôi viết để cố gióng lên một tiếng chuông để những người Việt Nam và những người gốc Việt tìm hiểu và phổ biến nét đẹp riêng của dân tộc, không của một chính thể hay quyền lực nhất thời nào - bởi vì một vài chục năm, một trăm năm nào có nghĩa gì trong dòng lịch sử rất dài của dân Việt. (Người khác nói 'bốn nghìn năm văn hiến', tức là kể từ đời Hùng Vương thứ nhất năm 2789 trước Công nguyên, cho đến nay 2006 sau Công nguyên đã là 4795 năm. Tôi thích kể lịch sử Việt Nam từ thời văn hóa Hòa Bình, từ 10.000 năm nay). Tôi hy vọng rằng sẽ có nhiều người yêu thích đồ gốm Việt Nam, viết và ca ngợi văn hóa Việt Nam để đính chính lại những sai lầm mà trong rất nhiều năm qua, từ tầm nhìn hạn hẹp của một số nhà Nho cũ, từ những kiêu ngạo ngang ngược của người viết sử Tàu, từ những cố chấp, mù quáng của những nhà viết sách người Pháp, tạo ra. Rồi sau đó được chấp nhận do sự hời hợt của nhiều trí thức, nhà báo, nhà giáo Việt Nam.


Tôi không chê văn hóa Trung Hoa, hay chê đồ gốm Trung Hoa. Tôi đã từng viết đồ gốm Trung Hoa cực đẹp. Nhiều người chuộng đồ gốm Trung Hoa chỉ vì nó đẹp, người khác chuộng không những chỉ vì nó đẹp, nhưng lại thêm vì không biết rằng đồ gốm Việt Nam cũng rất đẹp, một cái đẹp rất Việt Nam, rất khác cái đẹp Trung Hoa. Như tôi thường viết, cái đẹp của đồ gốm Trung Hoa là cái đẹp của thơ Lý Bạch, cái đẹp của đồ gốm Việt Nam là thơ Nguyễn Khuyến. Tôi thích đồ gốm Trung Hoa, nhưng tôi yêu đồ gốm Việt Nam. Cũng chẳng khác gì việc tôi thích cái đẹp của nhiều cô gái mình từng gặp trên đời, nhưng tôi yêu cái đẹp của vợ tôi. Người khác nghĩ sao mặc lòng.


Cà kê dài dòng mà vẫn chưa trả lời các câu hỏi của ông Phong Uyên, vậy thì nay xin nói thẳng:


1. Để được rõ thêm, tôi đã gọi điện thoại về Hải Dương để tham khảo với ông Tăng Bá Hoành (nguyên là Giám đốc Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương), người có công lớn nhất trong việc khai quật, lưu trữ, nghiên cứu về đồ gốm Chu Đậu, thì được ông cho biết thêm là từ năm 1980, (khi nhận được thư của ông Makato Anabuki, và xác định được niên đại và nguồn gốc của bình Tokapi Saray) thì những khai quật và tìm hiểu ở Chu Đậu kế đó là do Viện bảo tàng Hải Dương tự làm, chứ chính quyền trung ương ở Hà Nội không góp phần. Vì thế mặc dù nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Hải Dương rất muốn sang Istanbul để xem tận mắt chiếc bình Tokapi Saray này - và biết đâu lại chẳng nhận diện được nhiều món đồ Chu Đậu khác đang được lưu giữ tại đó - nhưng họ đã không có đủ ngân khoản để thực hiện. Vì thế mọi liên lạc, tìm hiểu với Tokapi Saray chỉ là qua thư từ. Cho nên, cho đến nay, không có một phái đoàn chính thức nào của Việt Nam đến Tokapi Saray.


Người Việt Nam nổi tiếng về đồ cổ đã đến viện bảo tàng Tokapi Saray là cụ Vương Hồng Sển. Trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 240-241) cụ viết về chuyến viếng thăm Viện bảo tàng Tokapi Saray năm 1963 như sau: 'Viện Tokapi chứa đồ céladon đến số muôn số thiên gồm đồ đời Tống , đời Nguyên , đời Minh , luôn cả đồ đời Kiền Long nhà Thanh ...'



Trên hơn một trang giấy, cụ Vương không hề nhắc đến trong 'số muôn số thiên' ấy có cái bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, mà cũng không nói là viện Tokapi Saray có trưng đồ Việt Nam hay không. Hoặc giả là cụ không nhìn thấy cái bình ấy, hoặïc giả là có thấy mà cho là đồ đời Minh, đời Thanh (Cụ Vương không đọc rành chữ Hán, mà có khi cụ cũng không biết châu Nam Sách là một nơi ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam).


Ông Phong Uyên kể rằng đã đến Viện bảo tàng Tokapi Saray hơn mười năm trước đây, thấy mấy trăm món đồ đời Minh và có thấy cái bình đó, nhưng cũng là sau khi ông Makato Anabuki nhận ra rằng bình này làm ở Việt Nam, mà từ đó được ghi chú đúng là 'nguyên gốc ở Việt Nam'. Tôi vẫn nghĩ rằng có nhiều đồ Chu Đậu ở nhiều nơi bị ghi chú lầm là đồ Trung Hoa, và tôi thường tự hỏi còn bao nhiêu món Chu Đậu đẹp ở Tokapi Saray, ở những việc bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân khác vẫn mang nhãn đồ Tàu?



 Chân đèn đời Trần cao 70cm (Bộ sưu tập Bùi Ngọc Tuấn) Ngoài chiếc bình ở Tokapi Saray, nhóm ông Tăng Bá Hoành còn tìm được rất nhiều món đồ làm ở làng Chu Đậu, ở Phủ Nam Sách ghi rõ tên người làm, người đặt làm, những năm tháng của thế kỷ XV, thời Hậu Lê, thời Trịnh-Mạc. (Xin nhắc ông Phong Uyên xem lại các chú thích số 7 đến số 10 dưới chương về đồ Chu Đậu). Mà chẳng gì Chu Đậu, nhiều món đồ Bát Tràng (lư hương, chân đèn...) cũng ghi rõ năm tháng, tên người làm, tên người đặt...). Những chân đèn cao, đẹp, những món đồ Lý-Trần đẹp chẳng những có trong các bộ sưu tập riêng (mà tôi cũng có may mắn dự phần - khi nào có dịp, xin mời ông Phong Uyên ghé thăm) mà còn có rất nhiều ở Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Dương...


 Bình men rạn đời Lý (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson) Nhân đây cũng xin kể rằng, ông Tăng Bá Hoành đã tìm ra thêm nhiều điều thú vị về bà Bùi Thị Hý, người vẽ và viết hoa văn của chiếc bình tuyệt đẹp đó: Bà Bùi Thị Hý sinh năm 1420 mất năm 1499 ở Nam Sách là người hay chữ, có nét vẽ và nét viết rất đẹp. Bà đã giả trai để đi học và đi thi. Sau khi đậu tam trường thì việc giả trai của bà bà bị khám phá. Bà trở về Chu Đậu, lấy ông Đặng Sỹ, chủ một lò gốm rất lớn ở Chu Đậu. Lò này chuyên làm đồ xuất cảng. Tại đây với tài năng sẵn có, bà Bùi Thị Hý đã vẽ hoa văn cho rất nhiều món trong đó có bình Tokapi. (Những chi tiết này ông Tăng Bá Hoành đã viết trong một bài đăng trên báo Quân đội Nhân dân ở Hà Nội).



Về giá bán, đồ cổ thì vô giá. Ai thuận mua với giá nào là nó có giá đó. Chứ đâu phải như quần áo, bàn ghế thường dùng. Đồ gốm Việt Nam đẹp vốn đã hiếm, lại ít ai (kể cả người Việt) biết đến. Chính vì cái ít ai biết đến ấy, mà mấy anh Tàu anh Nhật cứ mua rồi cất trong nhà thôi, không bán chác gì cả.



 Bình Chu Đậu (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson) Hồi tháng 10 năm 2000 nhà bán đấu giá Butterfields có tổ chức ở San Francisco và Los Angeles cuộc bán đấu giá đồ gốm Chu Đậu vớt được từ một tầu chìm ngoài khơi Cù Lao Chàm, Hội An (họ gọi là 'Hoi An Hoard', kho tàng Hội An). Trong 3 ngày 11, 12, 13 tháng 10 này tổng số tiền bán được là vào khoảng 3 triệu Mỹ kim. Mấy món đồ bán được cao giá nhất là 79.500 - 63.000 - 57.500 - 40.250 và một số món khác từ 28.750 đến 37.375 Mỹ kim và rất nhiều món khác được bán với giá trên mười nghìn Mỹ kim. Những người mua các món này là một nhà sưu tập hiện sống ở Á Châu, viện Bảo Tàng British Museum, Gallery of New South Wales, Seattle Art Museum, Phoenix Art Museum, Asian Art Museum of San Francisco, San Diego Museum of Art... (Trong đó người sưu tập gốc Việt mua khoảng 20% số món đồ - khi có dịp, tôi sẽ xin viết tường tận hơn về cuộc bán đấu giá này). Sau đó trên báo Nhân dân số ra ngày 20 tháng 3 năm 2006, dưới tựa bài 'Gốm cổ Chu Đậu - thông điệp của thời gian ' tác giả Khôi Nguyên viết rằng: 'Một người Mỹ tên là G. Xpin-man đã mua được chiếc bình tỳ bà cao 28,5 cm qua một cuộc đấu giá, với giá kỷ lục 521.000 USD...'. Cuộc bán đấu giá này được tổ chức ở đâu, ngày nào? Không thấy ông Khôi Nguyên nói rõ. Nhưng với giá hơn nửa triệu Mỹ kim thì đồ Chu Đậu được lắm đó chứ?



 Đĩa Chu Đậu tam thái (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson) Ít năm nữa, mấy cái bình này sẽ lại được bán với giá nào? Tôi tin là cứ từ từ, rồi người ta sẽ biết đến, rồi đồ gốm Việt Nam cũng sẽ được các nhà Butterfields, nhà Chrities, nhà Sotheby's ... bán với những giá tiền khổng lồ cho mà xem.


Các nơi bán đấu giá ở gần nhà ông Phong Uyên, bán đồ đời Minh 5 triệu Mỹ kim, đồ Thanh 100.000 Mỹ kim, và đồ Việt dưới 1.000. Nhưng tôi tự hỏi, ví thử cái bình Tokapi Saray được đem ra bán đấu giá thì mấy triệu? Những món đẹp nhất của 'Hoi An Hoard' được giữ lại cho viện bảo tàng ở Việt Nam, nếu được bán ra thì thu về bao nhiêu? Tôi nghĩ là nhiều món trong số đó sẽ bán được hàng trăm nghìn. Có thể tiền triệu được chăng?


2. Về đồ gốm Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) tôi đã viết rõ trên hai chương về hai loại đồ gốm nay, chỉ xin tóm tắt rằng: Chu Đậu và Bát Tràng hoạt động gần như cùng thời. Sử sách cổ viết về Bát Tràng mà không viết về Chu Đậu, như vậy là vì Bát Tràng làm đồ gốm từ lâu hơn chăng? Gốm Chu Đậu đẹp hơn Bát Tràng. Gốm Chu Đậu thường được xuất cảng, Bát Tràng để dùng trong nước. Cụ Vương Hồng Sển, trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 13), viết theo lời kể của bác sĩ Trần Lê Đôn, rằng Bát Tràng chỉ làm 'đồ từ khí'. Điều này không đúng, Bát Tràng cũng làm chén đĩa, vì thế triều đình mới lấy để mang cống triều đình Trung Hoa (Xin xem lại chương tôi viết về Bát Tràng). Sau khi Chu Đậu tàn lụi thì Bát Tràng vẫn tiếp tục và được một số nghệ gia từ Chu Đậu tới cùng làm gia tăng mức độ sản xuất và giá trị của Bát Tràng.


Cụ Vương viết thêm là 'theo ông Lê Thành Khôi, lò Bát Tràng do hai người thợ gốc gác ở Thanh Hóa đến đây xây dựng... và dẫn món cổ nhứt để làm vật dẫn chứng, ký niên hiệu Mậu dần (1578)...'. Chắc đây là cái bình có ghi 'Diên Thành vạn vạn niên' (năm Diên Thành thứ nhất đời Mạc Mậu Hợp. Dựa vào đó cụ Vương viết rằng 'gốm Bát Tràng thuộc vào đời nhà Mạc'. Thật ra Bát Tràng đã làm đồ gốm từ trước đó lâu rồi, năm 1435 Nguyễn Trãi đã viết trong Dư địa chí rằng Bát Tràng đã cung cấp đồ bát chén làm cống phẩm cho triều Minh. Làm bát chén được lựa làm cống phẩm thì đâu phải là tay mới ra nghề. Số người từ Chu Đậu dời đến Bát Tràng chỉ làm tăng thêm lượng và phẩm của gốm Bát Tràng, chứ người ở làng này vẫn làm đồ gốm lâu rồi.


Trong sách Gốm Bát Tràng' các ông Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc có dẫn chuyện 'Hứa Vĩnh Cảo (đời Lý Thái Tổ - đi sứ nhà Bắc Tống về) truyền cho Bát Tràng nước men trắng'. Như vậy tôi nói rằng Bát Tràng đã có nguồn gốc từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long cũng chẳng phải là chuyện xa sự thật. Gốm Chu Đậu thường ghi niên hiệu nhà Mạc, gốm Bát Tràng ghi niên hiệu nhà Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và ngày nay Bát Tràng vẫn còn tiếp tục làm đồ gốm, duy có khác ở chỗ dùng nhiều phương tiện tân kỳ hơn xưa, dùng nhiều hoa văn và dáng kiểu hơn xưa.


Nhóm ông Phan Huy Lê cũng tìm được món cổ hơn, một chân đèn ký năm Sùng Khang thứ 7 (1572).


Ngoài chương về đồ gốm Bát Tràng, xin mời xem lại chú thích số 4 dưới chương về đồ Chu Đậu. Chu Đậu ngưng làm đồ gốm từ thế kỷ XVII, nay cũng đã bắt đầu làm lại và làm quy mô hơn xưa bội phần. Nếu có dịp đi Việt Nam chơi, đến thăm cả hai nơi này chắc sẽ rất thú vị.


3. Cụ Vương Hồng Sển nói rằng khi người Mông Cổ chiếmt đẹp làm vào thế kỷ XI, dưới đời Lý, đây là thời nhà Tống còn hưng thịnh bên Tàu, chẳng có lý gì để họ phải qua Thanh Hóa lập nghiệp cả. Tôi vững tin mà kết luận rằng người Việt vẫn làm đồ men ngọc đẹp từ trước đời Lý cho đến sau đời Lê-Mạc.


 Các loại con kê (Hình từ Gốm Chu Đậu của Tăng Bá Hoành) 4. Dấu con kê. Dấu con kê của đồ gốm Việt Nam có rất nhiều loại, chứ không phải chỉ đơn thuần là vài ba cục đất sét nhỏ như ông Phong Uyên nghĩ. Có loại hình vành khăn, hình nón cụt, hình đĩa. Con kê thường có đường kính từ 4 đến 7 cm, cao từ 1 đến 4 cm. Có loại được nặn bằng đất sét hay cao lanh loại xấu, chỉ được dùng một lần, rồi bỏ, có loại làm bằng cao lanh tốt và được dùng đi dùng lại nhiều lần. Loại hình đĩa, theo lời ông Tăng Bá Hoành thì: 'có chân được đúc bằng khuôn, lót vải, đúc xong gắn các chân nhỏ'. Ngoài con kê ra còn có đinh gốm (trông giống cái đinh, dài 6 đến 8cm, đường kính 1.2 đến 1.4 cm. Con kê có từ 3 đến 5 mấu. Cái đáng chú ý là kỹ thuật dùng con kê cũng tiến triển nhiều hơn trước. Với đồ Lý Trần, dấu con kê còn rõ ràng trong bát, đĩa, trong khi đó, khi khai quật một số lò gốm Chu Đậu cổ, nhóm ông Tăng Bá Hoành đã tìm được hàng ngàn con kê đủ các loại, vậy mà trong bát, đĩa Chu Đậu dấu con kê không còn lộ ra nữa.


5. Đồ men ngọc của Tàu pha bột đá nên cứng hơn. Điều này kiểm chứng được rất dễ dàng. Tuy nhiên không ứng dụng được cho những người chỉ được xem đồ gốm trong sách hay trong viện bảo tàng, vì phải dùng tay mà sờ, mà cảm, mà gõ lên tiếng kêu: Khi cầm món đồ Tầu, nếu ta búng ngón tay vào thành bát (hay đĩa) tiếng kêu phát ra cao, trong và thanh, ngân dài không ngớt như tiếng chuông, nhưng ở món đồ men ngọc Việt Nam, thì tiếng kêu ngắn và đục. Những món mỏng hay dầy đều thế cả.


6. Không biết là thật sự khi xuất cảng đồ sứ thì các lò gốm Việt Nam có quan tâm lắm về việc bán đi nước nào chăng? Tôi viết là họ đã bán sang các nước Ả Rập Hồi giáo là vì muốn dùng ngôn ngữ thời nay, chứ thật ra mình bán cho các tầu buôn, họ chở sang vùng Persia, Ottoman (Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ). Chính những nhà quý tộc ở vùng này cũng không bận tâm là đã mua đồ gốm Việt Nam. Có khi họ còn yên trí là đã làm chủ các món đồ gốm đẹp của Trung Hoa.


7. Tôi thành thật mời ông Phong Uyên so sánh đồ gốm Trung Hoa đời Minh đời Thanh với vài món Chu Đậu đẹp hiện được giữ ở các viện bảo tàng sau đây (bởi vì nếu trưng ra các món Chu Đậu thuộc bộ sưu tập tư nhân thì khó mà được chủ nhân cho xem):


 Bình Tokapi Saray - với câu: 'Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút' (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson) Bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, hiện ở viện bảo tàng Tokapi Saray (mà ông Phong Uyên đã có dịp xem)



Bình của Prince Elector of Saxony do Duke of Florence tặng năm 1590, hiện được giữ ở Johannaun Museum, Dresden, Thụy Điển

Bình vẽ hoa mẫu đơn và hoa sen hiện ở Museum of Fine Arts, Bosto

Bình vẽ hoa mẫu đơn của Pacific Asia Museum, Pasadena

Bình Majorie Lewis Griffing của Honolulu Academy of Arts, Hawaii

Bình Betty & John R. Menke của Metropolitan Museum of Art, New York

Đĩa rồng, sen của Museum Nasional, Jakarta

Đĩa và bình của Museum of Oriental Ceramics, Osaka

Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương

Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội
 

 Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson) Thôi, chừng đó món đủ để thấy tại sao tôi cho là đồ Chu Đậu đẹp ăn đứt đồ Minh, Thanh rồi, kể thêm nữa cũng thế.


Tới đây tôi cũng xin thêm rằng biết đâu việc các viện bảo tàng, các nhà bán đấu giá ở nơi ông Phong Uyên cư ngụ (nước Pháp) không có đồ men ngọc hay đồ men lam Việt Nam, bởi vì mấy ông Tây đã lầm lẫn mà xếp các món đồ Việt Nam này vào đồ Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh rồi. Nội việc đồ gốm Việt Nam nào cũng bị gọi là đồ 'Tanhoa' (Thanh Hoá) thì ta thấy ngay là sự hiểu biết về đồ gốm Việt Nam của mấy ông Tây này ra sao rồi!


8. Trà đạo: Trước hết tôi xin dẫn lại chú thích số 2 trong chương 'Chu Đậu...': 'Từ thế kỷ 12, người Nhật bắt đầu uống mạt trà. Tràn tán nhỏ ra như bột, pha vào nước sôi. Mạt trà được nhập cảng từ bên Tầu qua, lúc đầu chỉ được coi là một thứ thuốc (tiên dược) có khả năng giải bệnh hơn là giải khát. Trà được dùng ở triều đình Nhật từ thời nhà Tống bên Tầu, nhưng đến thế kỷ 14, trà mới bắt đầu trở nên phổ thông, nhưng chén bát uống trà còn lộn xộn, hoàn toàn khác nhau, tùy theo ý người uống. Trà xanh được dùng khi 'Trà đạo' (Chanoyu) được khởi xướng bởi Murata Juko (1452 - 1502). Sau đó Takkeno-Jo O (1502 - 1555) và rồi sau nữa Thiền sư Sen Rikyo mới dọn xếp tất cả lại thành Trà đạo trong phong tục, văn hóa Nhật'. Trước tôi, cụ Vương Hồng Sển cũng viết trong Khảo về đồ sứ men lam Huế tập hạ, trang 39) như vậy. Trước đó, ở trang 13 cụ viết: 'Gốm Bát Tràng vào thế kỷ XVI, danh tiếng đến lò bên Nhựt Bản nhái tạo và đặt tên riêng là gốm Kot-chi (Giao Chỉ) ''. Nhắc lại để thấy những điều tôi viết sơ lược về Trà đạo của người Nhật cũng chẳng xa gì với ông Phong Uyên đã viết.

Ông Phong Uyên lý luận rằng vì không thấy đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Nhật mà ông đã đi qua, nên chắc đồ Chu Đậu chỉ được dùng trong dân gian thôi. Theo sách tôi đã đọc, xin kể sơ vài món:

Trong số đồ gia bảo của gia đình Tokugawa (sứ quân Nhật từ 1615 đến 1867) là một bình Chu Đậu của sứ quân Yoshiharu Tokugawa (1737-1786). Bình này đã được chính phủ Nhật chính thức xếp vào loại 'Trọng yếu văn hoá tài' (Important Cultural Property). Đây là thứ hạng chỉ dưới bậc 'Quốc bảo' (National Treasure - vốn dành riêng cho những bảo vật có nguồn gốc Nhật Bản). Bình này được dùng trong nghi thức Trà đạo của gia đình sứ quân Tokugawa. Dòng họ Tokugawa còn vài báu vật nữa là các bát uống trà Chu Đậu.

 

Gia bảo của dòng họ quan khâm sai vùng Nagasaki là Ozawa Shiroemon Mitsunaka có 8 món Chu Đậu, 1 món men trắng đời Lý. 4 trong số 9 món này hiện thuộc Kyoto National Museum.

 

Cũng kể thêm là gia đình đại thương gia Konoike ở Osaka - sưu tập nhiều bộ bình, chén dùng trong Trà đạo - cũng có một bình đời Lý, một bình tương tự cũng là của gia bảo của gia đình Kanamori Sowa (1546-1656)...

 

Đồ gốm Việt Nam vào thời đó được người Nhật gọi là đồ Shimamono (đảo vật) hay Namban (An-Nam) không những chỉ được ưa chuộng bởi những nhà quyền quý, mà còn được người Nhật bắt chước làm theo. (Sở dĩ những món này được gọi là 'đảo vật' vì lúc đầu, đồ gốm Việt Nam được tầu buôn từ Phi Luật Tân chở đến bán.)

Bà Louise Allison Court (trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition - chương 4, Vietnamese Ceramics in Japanese context ) nêu ra các điểm chính là:

Số đồ Chu Đậu ở Nhật ít hơn đồ Tàu, và chỉ được giữ trong những bộ Trà đạo gia bảo của giới quyền quý.(Bà Court còn viết thêm thế này: '... they have exerted significant influence on Japanaese connoisseurship and ceramics production in way that only now, with the intensification of interest in archaeology, are coming to be recognized'.

 

Không những chỉ có đồ tráng men mà cả những món đồ gốm không tráng men của Việt Nam cũng được giới Trà đạo yêu thích. Các lò gốm Nhật Bản cũng đã theo các mẫu đó mà làm theo. ( 'The many replicas and interpretations of unglazed Vietnamese ceramics made by Japanese potters further their attest to their cultural significance' ).

 

Những món đồ men trắng chàm với hoa văn đơn giản của Việt Nam đã thúc đẩy những hoạt động của lò gốm Seto và Mino.

 

Nói rằng người Âu châu (ngay cả người Việt) thích đồ sứ Nhật vì đẹp là rất đúng. Nhưng đó là chuyện sau này, chuyện của thế kỷ XIX, XX. Sau khi họ đã học và phát triển kỹ thuật và mỹ thuật cao. Đây là một đặc tính quý giá của dân Nhật, 'không biết sáng chế, chỉ bắt chước, nhưng sẽ làm hay hơn thầy'. (Cũng như người ta thích xe Lexus, Acura, Toyota, Honda... và cho rằng những xe này ăn đứt xe Mỹ. Nhưng đâu ai dám phủ nhận là người Mỹ dạy họ làm xe hơi - chính ông Lee Iacocca lúc còn làm ở hãng Ford Motor, đã phải sang Nhật để thuyết phục Honda nên đi vào kỹ nghệ xe hơi hồi mấy chục năm trước). Tất nhiên là tất cả mọi người đều biết làm đồ gốm từ thời thượng cổ, vì không biết làm thì lấy gì mà ăn uống. Nhưng sự khác biệt là biết làm những món thường thường và làm những món có tâm hồn, những món có nghệ thuật là chuyện khác. Người Nhật trước chỉ mua đồ của người Tàu, người Cao Ly, học nghề đồ gốm từ Cao Ly, gợi hứng từ đồ gốm Việt Nam. Sử chép rằng các phác họa đồ gốm dùng trong Trà đạo được gửi từ Cao Ly (và Việt Nam) qua Nhật để chuẩn duyệt rồi mới mang về lò gốm ở Cao Ly, Việt Nam để làm xuất cảng sang Nhật.

Sử chép rằng vào thế kỷ XVI, (năm 1592-1598) khi xâm chiếm Cao Ly, người Nhật đã bắt 3.000 thợ đồ gốm Cao Ly mang về Nhật. Nghề làm đồ gốm ở Cao Ly sa sút hẳn từ đó.

Cứ công tâm mà so sánh thì trong quyển Blue and White in the East Asia của Viện bảo tàng Osaka, với những hình chụp đồ đời Minh, đồ Nhật, đồ Cao Ly và đồ Chu Đậu, thì sẽ thấy tất cả đều đẹp, nhưng đồ Chu Đậu trội vượt hẳn lên. Nhưng bây giờ đi ra chợ mua chén đĩa đắt tiền thì không ai lại làm đẹp bằng đồ của người Nhật. (Nhưng lại có người - như vợ tôi chẳng hạn - lại chỉ thích chén đĩa men trắng làm ở Hải Dương thôi.)


(còn tiếp...)


Nguồn: truyengicungco.com

'Trở thành một thương gia thật không dễ dàng, bạn cần sự tin cậy, khả năng thực hiện các đánh giá khôn ngoan và có đạo đức.' (Nhà buôn cổ vật William Chak)
website statistics